RSS

Nồi chè mồng tám tháng ba

che-xu-hue

Người ta thường nói “Con đường gần nhất đến trái tim người đàn ông là qua dạ dày”. Với tôi điều đó hoàn toàn đúng. Và ngược lại, đàn ông cũng có cách tiếp cận phụ nữ qua việc nhờ họ chuẩn bị các món ăn để chuyển qua đường dạ dày. Điều đó cũng đúng với tôi hơn 30 năm về trước.

Hồi đó, để kỷ niệm ngày mồng tám tháng ba, cánh đàn ông chúng tôi thường  chỉ đủ tiền để chiêu đãi chị em mấy ly chè và không có hoa.

Năm đó, chỉ còn một ngày nữa là Quốc tế phụ nữ, tôi chợt nảy ra ý nhờ người bạn gái của tôi nấu một nồi chè, để vừa kiểm tra tay nghề của nàng và cũng có lý do để mừng ngày của phái nữ mà nàng là một thành viên.

Tôi tới đặt vấn đề với thằng bạn vốn nổi tiếng nấu ăn khéo, con một chủ nhà hàng ăn ở Huế. Yêu cầu của tôi là các nguyên liệu để nấu một nồi chè thập cẩm cho 4 người. Hý hoáy và tính toán một lúc, người bạn tôi đưa ra một danh sách dài các nguyên liệu cho một nồi chè thập cẩm kiểu Huế. Nào các loại đậu, đậu đỏ đậu xanh, đậu đen, bột lọc, nước dừa, đường, … tôi nhìn hoa cả mắt. Người bạn còn cẩn thận dặn dò về thời gian và cách thức hầm đậu cho nhừ, cách tạo các cục bột lọc cho vừa mắt và ngon miệng. Tôi nào có để ý. Chỉ cần có được danh sách các nguyên liệu cho nồi chè là mừng rồi. Tôi chạy ào ra chợ, cứ theo danh sách các nguyên liệu mà mua, tuy nhiên với tính cẩn thận (và tham ăn), tôi cứ nhân thêm gấp 4 lần mọi thứ mà người bạn đã lên cho. Hý hửng và có chút tự hào, tôi đưa về cho người bạn gái mọi thứ đã mua để chuẩn bị nồi chè nhân ngày mồng tám tháng ba.

Hôm sau, lũ chúng tôi ba đứa con trai có mặt tại nhà nàng, hào hứng chờ nồi chè thập cẩm. Quả thật là ngon, và chắc chưa bao giờ tôi được ăn những cốc chè thập cẩm ngon như vậy.

Chỉ tội, cả lũ chúng tôi phải liên tục cả một tuần sang nhà nàng để giải quyết hết nồi chè mà nàng đã nấu theo các nguyên liệu mà tôi đã mua.

Phải một năm sau tôi mới dám nhìn vào các quán chè thập cẩm. Nhưng được cái, qua mồng tám tháng ba năm đó  người nấu nồi chè thập cẩm vĩ đại đã trở thành  người vợ hiền của tôi suốt ba chục năm nay.

***

IMG_8170

Trần Lộc Hùng

Tp. Hồ Chí Minh, gần 8/3/2013

 
Leave a comment

Posted by on March 7, 2013 in Tản mạn

 

Tags: ,

NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Đầu đề của bài viết có thể làm người đọc liên tưởng tới những hồi ký của một người nổi tiếng nào đó (tướng lĩnh, lãnh đạo đảng, nhà văn hóa, …). Nhưng đây chỉ là những kỷ niệm của một lưu học sinh được nhà nước cử sang Liên Xô học tập vào giai đoạn đất nước đang chuẩn bị bước vào những sự kiện lớn của dân tộc. Bài viết này liên quan tới thời gian người viết ở Khoa Dự bị Trường Đại học Tổng hợp Kiev (KGU, 1971-1972), hưởng ứng chương trình Thầy trò Xô-Việt của VTV nhân ngày 20/11/2010, nhằm tặng tất cả các bạn đã cùng tôi sống và học tập ở Khoa Dự bị Trường Đại học Tổng hợp Kiev thời gian đó. Sau gần 40 năm những kỷ niệm vui – buồn, người còn kẻ mất… nhưng là những kỷ niệm không thể nào quên của tuổi 17.

Tuổi thơ “dữ dội”

Tháng 7 năm 1971 sau khi thi xong kỳ thi vào đại học, tôi chờ đợi giấy gọi vào đại học. Cũng có hồi hộp mặc dù điểm thi của tôi năm đó thuộc loại cao. Hồi hộp một phần vì một số bạn cùng thi khối QR đã được gọi tập trung học chính trị tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) để chuẩn bị đi học nước ngoài. Cũng thời gian đấy, nhiều người bạn trong lớp tôi đã nhập ngũ để tham gia các chiến dịch ở phía Nam. Hàng ngày tôi cùng mấy đứa bạn cùng cảnh ngộ lang thang khắp phố phường Hà Nội trên chiếc xe đạp cà tàng. Cũng chính vì vậy mà mặc dù sống ở Hà Nội từ năm lên 6 tuổi, nhưng lúc đó tôi mới biết tới Khu Triển lãm Vân Hồ, hồ bơi Quảng Bá, vườn ổi ven Hồ Tây, đường Thanh niên, …
Cũng thời gian đó, sau Chiến dịch đường Chín Nam Lào, suốt ngày mấy đứa chúng tôi ngêu ngao:

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Ðường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Ðông nhớ Trường Sơn Tây
……..

mà sau này tôi mới biết đó là bài hát được Hoàng Hiệp phổ nhạc từ bài thơ Trường Sơn đông, Trường Sơn tây của Phạm Tiến Duật.

Một buổi tối tôi được Trần Ngọc Sơn, một bạn học cùng trường Hà Nội A (nay là trường THPT Việt Đức-trên đường Lý Thường Kiệt), thông báo là tôi có tên trong danh sách gọi đi học nước ngoài đợt 3. Sau vài ngày làm các thủ tục giấy tờ, tôi vào trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội để tham gia học chính trị. Quả thật lúc đó, đi đâu và học gì tôi không quan tâm lắm. Chỉ mừng là gặp rất nhiều bạn bè quen biết. Lâm Thành Phước, Trần Liên Hoa, Trương Xuân Liên, Phạm Thanh Hương, Nguyễn Đức Chính, … là những người bạn cùng lớp của trường Hà Nội A đã sống với nhau hơn hai năm tại khu sơ tán Bình Đà (Thanh Oai, Hà Tây). Học thì ít mà chúng tôi rủ nhau đi chơi thì nhiều. Vì vậy mà chúng tôi rất quen thuộc quầy bia hơi ngay gần sông Tô Lịch đen ngòm, nơi phân chia địa giới giữa hai trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và Đại học Kinh tế Quốc Dân.

Lên đường

Sau hai tuần học chính trị, làm các thủ tục hộ chiếu và khám sức khỏe, chúng tôi được lệnh lên đường. Tối 27 tháng 7 năm 1971, Ga Hàng cỏ (Hà Nội) đông nghẹt người. Bạn bè, người thân, những câu dặn dò của Cha Mẹ mà nào chúng tôi đâu có để ý. Tôi chia cả chùm nhãn to do cô ruột tôi mua để tiễn cháu cho lũ bạn Bình chóp, Hoàn bệu, Hà mèo, Bắc cáo, Toàn con, Toàn trọc… và cũng không hề nghĩ rằng đối với nhiều người đấy là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Bắc- người bạn cùng lớp 10 C trường Hà Nội A đã gia nhập quân đội và mất do hậu quả chiến tranh. Toàn con-tham gia các chiến dịch tại Căm pu chia và không có tin tức gì sau giải phóng. Chỉ có Toàn trọc là tôi gặp lại tại Kiev, khi cậu ta sang học dự bị tại KISI (trường Đại học xây dựng Kiev), còn Bình chóp, Hoàn bệu và Hà Chí Thành (Hà Mèo) thì số phận đưa đẩy chúng tôi xa nhau, từ đó tới nay tôi chưa hề gặp lại.

Tạm biệt Hà Nội, không phải nơi tôi sinh ra, nhưng là nơi tôi lớn lên với những trận đá bóng nảy lửa trên vỉa hè các phố Trần Hưng Đạo, Hàng Bài, Ngô Quyền. Hà Nội với những toa tầu điện sơn xanh đỏ cùng tiếng chuông leng keng đưa chúng tôi tới tận Hà Đông những ngày sơ tán. Hà Nội mà tôi nhớ là những sáng chủ nhất, đá bóng tại Công viên Thống Nhất, bị mất áo quần và đánh nhau với tụi trẻ lang thang ở công viên. Hà Nội là nơi mà những lần trốn học từ nơi sơ tán về, tôi và mấy đứa bạn lang thang các phố vắng thời chiến tranh, mò tới vườn Bách Thảo để ăn thịt bò khô, để hái sấu đường Trần Hưng Đạo, hái me đường Ngô Quyền, …

Tạm biệt Hà Nội, đoàn tầu hỏa chuyên cơ chở chúng tôi lặng lẽ bò qua cầu Long Biên, cây cầu gắn với lịch sử hào hùng của Hà Nội và cũng gắn với tuổi thơ nghịch ngợm của tôi. Tôi lặng lẽ nhìn xuống bãi Long Biên và nhớ tới những buổi chiều trốn học ra đá bóng, xong ghé qua ăn kem tại cổng sau nhà máy nước đá. Đã có lần, sau trận đá bóng chúng tôi dồn tiền lại để mua kem ăn, vừa ăn vừa hít hà vì lạnh. Kết quả là răng tôi bị vỡ một miếng to vì không chịu nổi giá lạnh. Ngồi trên tầu tôi thật sự nhớ tới gia đình, bạn bè và không biết rằng phải sáu năm sau tôi mới gặp lại. Trong toa, xung quanh tôi có nhiều tiếng sụt sịt, và hình như không chỉ từ phía các bạn nữ.

Hành trình trên đất Trung Hoa

Không còn nhớ lúc nào tầu tới ga Đồng đăng. Chỉ biết là chúng tôi được lệnh ở nguyên trên tàu đợi trời sáng. Lại rì rầm, thì thầm, nhưng chắc là không còn ai khóc nữa, vì chúng tôi đều hồi hộp chuẩn bị giây phút rời Tổ quốc. Trước khi tàu chuyển bánh, chúng tôi được phát Hộ chiếu, nhưng có 6 bạn trong đoàn chúng tôi buộc phải xuống tàu vì thủ tục nào đó chưa hoàn thành. Tôi nhớ có PTV. học sinh trường Học sinh miền Nam, hay ghé nhà tôi chơi, cũng bị gọi xuống tàu lần đó. Sau này, PTV. tốt nghiệp trường Đại học Xây dựng Hà Nội và trở thành chủ tịch một thành phố lớn ở miền Trung. Tạm biệt Đồng Đăng, tạm biệt phố Kỳ lừa, tạm biệt nàng Tô thị, đoàn tàu lặng lẽ đưa chúng tôi qua biên giới Việt Trung. Cảnh vật thật hùng vĩ, với những ngọn núi cao xanh ngắt, với những ruộng bậc thang đẹp như trong tranh. Sau này, có dịp đi nhiều nơi, nhưng tôi vẫn cảm thấy nhớ những hình ảnh vùng biên giới phía Bắc hùng vĩ của đất nước. Xa xa các chú bộ đội biên phòng vẫy tay chúc chúng tôi lên đường bình an. Tôi cũng không thể ngờ nơi đây tám năm sau lại là nơi đã diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt của bộ đội địa phương và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng sơn chống quân xâm lược Trung Quốc trong chiến tranh biên giới phía Bắc 1979.

Đoàn lưu học sinh chúng tôi được biên chế theo nhiều đoàn khác nhau, nhưng cùng ở các toa trên tàu Trung Quốc. Tôi cũng không nhớ mình đã cùng khoang tàu với ai, nhưng chỉ nhớ là suốt ngày, trừ các bữa ăn, chúng tôi dán mắt vào cửa kính để ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài. Tàu Trung Quốc lúc đó chạy than nên chỉ sau một ngày, cổ áo chúng tôi đều đen kịt bụi than. Nước sinh hoạt trên tàu cũng không nhiều nên cứ tới ga lớn, chúng tôi lại ùa xuống rửa mặt vội vàng và sau đó chạy vào các quầy bán đồ lưu niệm để mua bút Kim Tinh, cắt móng tay, … những đồ rất được ưa chuộng thời đó.

Tàu hỏa chở chúng tôi đi qua hầu hết đất nước Trung Hoa vĩ đại. Cứ tới một địa danh mới chiếc loa trên tàu lại vang vang giới thiệu những danh lam thắng cảnh nổi tiếng mà chúng tôi rất quen thuộc qua các tác phẩm kinh điển của Trung quốc như Tam quốc chí, Thủy Hử, … Loa trên tàu giới thiệu sông Trường Giang hùng vĩ và giúp chúng tôi nhớ lại các trận đánh của Đông Ngô với Tào Tháo tại Xích bích. Nhờ chuyến đi mà tôi mới biết sông Trường Giang còn có tên gọi sông Dương Tử, là con sông dài nhất châu Á và đứng thứ ba trên thế giới sau sông Nin ỏ châu Phi và sông Amazon ở Nam Mỹ. Sông Trường Giang dài khoảng 6.385 km, bắt nguồn từ tỉnh Thanh Hải (phía tây Trung Quốc) và chảy về phía đông đổ ra biển Đông Hải (Trung Quốc). Thông thường sông này được coi như điểm phân chia giữa hai miền Hoa Bắc và Hoa Nam Trung Quốc. Thời Tam quốc, sông Trường Giang là biên giới tự nhiên giữa Đông Ngô và Bắc Ngụy.

Không rõ vì lý do gì mà chuyến tàu của chúng tôi lần đó không dừng tại Bắc Kinh. Tàu chạy vòng bên ngoài Bắc Kinh, từ trên tàu chúng tôi nhìn thấy các ngôi nhà của người dân Trung Quốc bé nhỏ nhưng dán đầy các khẩu hiệu màu đỏ, chắc là ủng hộ Cách Mạng Văn Hóa và Chủ tịch Mao Trạch Đông. Có lần tôi nhìn thấy một gia đình người Trung Quốc ngồi sát đường sắt ăn cơm, làm tôi nhớ hai đứa em gái của mình cũng hay mang bát ra cổng vừa ăn cơm vừa ngắm người qua lại.

Trên tàu, xem cảnh mãi cũng chán, chúng tôi quay ra chơi bài hoặc đánh cờ tướng. Có đưa lại ngêu ngao hát nhại mấy bài tiếng Trung Quốc theo loa trên tàu. Một điều làm tôi nhớ mãi là thái độ phục vụ của nhân viên trên tàu Trung Quốc. Rất tận tình, chu đáo và kín tiếng. Sau này tôi mới biết là hầu như tất cả nhân viên phục vụ trên tầu của chúng tôi đều biết tiếng Việt, nhưng không bao giờ thấy họ biểu hiện bực dọc với chúng tôi, ngay cả khi chúng tôi hát nhại và chế riểu các bài hát ca ngợi lãnh tụ của Trung Quốc thời đó. Cũng vì vậy mà tất cả chúng tôi há hốc mồm ngạc nhiên (và có phần sợ hãi) khi tại ga Mãn Châu Lý tất cả nhân viên phục vụ trên tàu đều chào và chúc chúng tôi lên đường bình an bằng tiếng Việt giọng Hà Nội rất chuẩn.

Khi còn nhỏ tôi đã được nghe nói “ăn cơm Tầu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”. Nhà Tây thì sau này tôi đã được ở nhiều lần. Vợ Nhật thì tôi không có ý định lấy. Nhưng cơm Tầu thì quả thật là ngon, ít nhất là đối với chúng tôi, lũ học sinh đang tuổi lớn, lại đi từ đất nước đang có chiến tranh. Không thể nhớ hết các món mà chúng tôi đã được thưởng thức trên tầu Trung Quốc đợt đó, nhưng chỉ nhớ là chúng tôi rất nhanh chóng dẹp các ván cờ đang đánh dỡ để tới toa ăn khi nghe thông báo qua loa tới giờ ăn. Thậm chí khi chuyển tàu ở biên giới Trung Xô mỗi người chúng tôi còn được phát một túi giấy to trong đó có 1/4 con gà, một cái bánh bao to và một quả táo đỏ, còn thêm cả một cuốn Mao tuyển bìa đỏ. Chúng tôi được bí mật thông báo là không được đem theo các cuốn Mao tuyển qua biên giới Trung -Xô vì quan hệ căng thẳng giữa Liên Xô và Trung Quốc lúc đó. Tuy nhiên cũng có nhiều đứa chúng tôi đã bí mật lột lấy vỏ cuốn Mao tuyển màu đỏ để làm ví tiền.

Tàu tới ga Mãn Châu Lý, chúng tôi xuống tàu rất ngỡ ngàng vì khắp nhà ga đỏ rực các băng rôn tiếng Trung và tiếng Việt với nội dung ca ngợi tình hữu nghị Việt Trung. Một nhóm thiếu nhi Trung Quốc đứng hát các bài hát ca ngợi Mao Trạch Đông, ca ngợi tình hữu nghị Việt Trung và chúc các bạn Việt Nam lên đường bình an. Tới bây giờ tôi vẫn hình dung ra các em thiếu nhi Trung Quốc với các tết tóc đuôi sam truyền thống và mặt được bôi đỏ như trong các vở kinh kịch, rất hớn hở và vui mừng khi được gặp các học sinh tới từ đất nước tuyến đầu chống đế quốc Mỹ.

Những dấu chân đầu tiên trên đất nước Xô Viết

Tôi thật sự hụt hẫng khi đặt chân lên đất Liên Xô, nhìn vẻ mặt lạnh lùng của các chiến sỹ biên phòng Xô Viết cao to, và bên cạnh là những chú cho beger lông xám, lưỡi dài trông không được thân thiện lắm. Đứa nào trong chúng tôi cũng đều háo hức đón chờ bữa ăn đầu tiên trên tàu NGA. Bốn đứa chúng tôi ngồi một bàn chờ đợi và nảy ra ý định là ăn trước bánh mỳ với bơ. Chúng tôi cố gắng phết đầy thứ “bơ vàng” có trong lọ để sẵn trên bàn ăn, và cho vào miệng. Nhưng thật không ngờ lọ “bơ vàng” đó chỉ là lọ mù tạt hạt cải của NGA. Trời ơi, từ nhỏ tới lớn tôi chưa bao giờ cảm thấy cay như lúc đó. Nước mắt nước mũi cứ tự động chảy ra. Và không đứa nào dám kêu ca lời nào cả, phải cố gắng nuốt cho xong miếng bánh cay đó. Đúng là tham thì thâm. Chờ mãi cũng thấy các cô phục vụ đưa đồ ăn ra. Món thứ nhất đưa ra, hết vèo. Món thứ hai cũng biến mất với tốc độ rất nhanh. Chúng tôi ngồi đợi các món khác đem ra, nhưng chờ mãi không có. Thế là đành quay về toa với thái độ hậm hực vì vẫn bụng vẫn sôi sùng sục vì đói.

Tôi không nhớ chính xác là bao nhiêu nhưng chúng tôi đã được phát sinh hoạt phí trên đường từ biên giới Trung -Xô tới Matxcova. Số tiền ít ỏi đó được chúng tôi mua giò (kalbasa) và bánh mỳ để dẹp cơn đói thường xuất hiện vào buổi tối. Có lần, Triều ngỗng (Lê Trọng Triều)-bạn cùng khu tập thể với tôi ở 40 Trần Hưng Đạo Hà Nội- tới rủ tôi đi mua đồ ăn tối. Tôi cùng Triều, Hữu (Lê Tấn Hữu), Ánh (Nguyễn Ngọc Ánh) len lỏi qua nhiều toa tầu để tới toa ăn, thường ở giữa đoàn tàu. Do vốn tiếng Nga rất ít (mặc dù được học 3 năm cấp 3) nên chúng tôi phải hoa chân múa tay để mô tả ý muốn của mình là mua giò, bánh mỳ và chai rượu. Mấy đưa bọn tôi ngồi ngay ở chỗ nối hai toa tàu và nhanh chóng thực hiện buổi liên hoan dã chiến. Ngoài Triều ngỗng có tửu lượng khá, chứ mọi đứa chúng tôi đều phải cố gắng lắm mới mò về tới toa của mình vì chót dại uống vài ngụm rượu Vodka cháy bỏng.

Tàu phải chạy chậm lại khi đi ven hồ Baican vì đang có trận lụt. Có lần chúng tôi thấy tầu dừng lại nên rủ nhau nhảy xuống tàu mặc cho cô nhân viên trên tàu la hét om xòm. Đang lang thang ven hồ thì tầu từ từ chuyển bánh làm chúng tôi hết hồn, chạy theo và đu người leo lên tàu. Thật là hú vía vì không đứa nào phải ở lại hồ Baican tối hôm đó. Nhưng sau lần đó, cô nhân viên tầu luôn đóng các cửa lên xuống mặc dù chúng tôi đã dùng đủ mọi hình thức dân vận.

Tôi cũng không muốn nhắc lại chuyện này vì nó quá trẻ con, nhưng dù sao cũng là một kỷ niệm của tuổi trẻ. Chúng tôi (đoàn lưu học sinh miền Nam) ở toa sát ngay toa của các đoàn lưu học sinh đi theo các chế độ khác nhau. Có đoàn đi Liên xô, nhưng cũng có đoàn đi các nước Đông Âu. Thường thì mỗi đoàn có một anh hay chị NCS được sứ quán phân công làm trưởng đoàn. Lần đó, có một bạn lưu học sinh ở toa bên cạnh, khi đi ăn cơm thường phải đi qua toa của chúng tôi, luôn bị true chọc và sờ đầu. Không rõ lý do vì sao nhưng có lẽ bạn đó quá mập, so với những học sinh chúng tôi. Lần đó, tôi đang ngồi đánh cờ tướng với một bạn trong toa (có lẽ là Châu cận), thì bạn lưu học sinh kia đi ăn cơm về, bị trêu trọc nhiều qúa nên đã dồn tức giận vào tôi bằng một cú đạp rất mạnh vào đùi tôi, và bỏ chạy. Tôi chỉ nhớ là lúc đó, chỉ với vài bước nhảy, tôi tóm được vai người đó và đấm mạnh vào mặt. Người bạn đó ngã sấp xuống, máu chảy tùm lum, mọi người la hét ầm ỉ. Tôi đi về chỗ với sự hối hận là đã quá nóng, nhưng thực sự lúc đó sự nóng giận thường xuất hiện với tuổi trẻ nông nổi, và với người có cá tính như tôi. Sau này, rất tình cờ là người bạn đó lại học ở KISI (trường Đại học xây dựng Kiev), ở ngay Ký túc xá mà tôi thường hay lui tới với Toàn Trọc (Lưu khành Toàn) – bạn tôi. Tôi rất muốn xin lỗi người bạn bị đánh thời đó, và sau này tôi cũng đã buộc mình phải đằm tính lại, khi nhận được nhiều cú đạp mạnh hơn cú đạp trên tầu Liên xô hồi nọ. Tuổi trẻ thật bồng bột, nhưng cũng thật đáng nhớ.

Tàu dừng tại thành phố Irkusk, thủ phủ của vùng Xiberi mênh mông của nước Nga. Chúng tôi được đưa tới một ký túc xá để khám sức khỏe trước khi về các thành phố của Liên Xô. Thật may mắn là tôi không bị giữ lại vì sức khỏe, và cũng may mắn là tôi gặp lại một vài người bạn cùng lớp, cùng trường trước khi chia tay nhau.

Tôi nhớ ngôi nhà Ký túc xá mà chúng tôi ở tạm lúc đó nằm cạnh sân bóng và sông Angkara. Tôi hay lang thang ra bờ sông, cởi giày và lội xuống sông. Nước sông lạnh buốt, xanh thẳm, không giống với bất cứ dòng sông nào ở Việt nam mà tôi đã từng biết như sông Hồng, sông Cầu hay sông Mã.

Trong hai tuần ở Irkusk, chúng tôi lang thang khắp thành phố, đá bóng và đi dọc sông Angkara. Có lần, tôi cùng một số bạn (tôi chỉ nhớ chắc chắn là có Lê Tấn Hữu, vì cậu ta biết tiếng Nga tốt hơn chúng tôi nên hay được mọi người rủ đi chơi) đi chơi thành phố. Tình cờ gặp một nhóm sinh viên Nga, mới tốt nghiệp. Chúng tôi được các sinh viên Nga mời về ký túc xá và uống rượu. Tôi không nhớ làm sao chúng tôi ra được cuộc liên hoan bất đắc dĩ đó, chỉ nhớ là các sinh viên Nga rất nhiệt tình và vui vẻ khi biết chúng tôi từ Việt nam tới. Nên lưu ý là thời điểm đó quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc rất căng thẳng và đã có súng nổ ở biên giới Xô-Trung. Vì vậy, đi đâu chúng tôi (có chút tự hào) cũng tự giới thiệu là lưu học sinh Việt Nam, tới từ đất nước đang có cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, để không lẫn với người Trung quốc đang bị chịu thành kiến do thái độ chính trị khác nhau của hai quốc gia.

Tối hôm trước khi tàu đưa chúng tôi lên Matxcova, có một chú từ Đại sứ quán ở Matxcova xuống thăm và thông báo sự phân công của Bộ Đại học & Trung học chuyên nghiệp (tên lúc đó của Bộ Giáo dục & Đào tạo) về ngành học và trường mà chúng tôi sẽ học đại học. Tôi cũng không nhớ mình có cảm tưởng gì khi biết ngành nghề mà nhà nước phân công khác với ngành mà đã đăng ký trước khi thi đại học. Tôi nhớ nguyện vọng mà mình đã đăng ký là Điện tử bách khoa (nguyện vọng 1), Cơ điện bách khoa (nguyện vọng 2) và Lái tầu biển xa (nguyện vọng 3). Sinh viên thời nay có thuận lợi hơn chúng tôi thời đó vì họ được quyền chọn ngành học, chọn trường học, chọn nơi học. Còn chúng tôi thời đó thì chỉ có việc chấp hành, không bàn cải.

Lại lên tàu, lại các bữa ăn, lại các ga xép… nhưng chúng tôi không còn bỡ ngỡ như mấy tuần trước nữa. Thậm chí khi tàu dừng tại các ga, chúng tôi cũng xuống ga và lang thang đi chơi trong ga, chờ tầu chạy. Người Nga thật tốt bụng, họ thường rất lo lắng khi chúng tôi lang thang trong ga, tiếng Nga thì ú ớ, giao tiếp chủ yếu bằng tay. Thỉnh thoảng lại có vài người tới hỏi chúng tôi là ai, đi đâu, có cần gì không? Thật xúc động khi nhớ tới nước Nga và con người Nga thời đó. Sau này, được đi nhiều nơi, gặp nhiều người khác dân tộc, khác tôn giáo, khác chính kiến, tôi vẫn luôn khẳng định con người thời Xô Viết thật tuyệt vời.

Kỷ niệm nhớ đời

Tôi nhớ tầu chúng tôi tới Matxcova vào buổi tối. Chúng tôi được đón tại ga tầu hỏa rất lớn, được đưa lên những chiếc xe buýt to và chở về ký túc xá của một trường đại học nào đó, nằm ở phía ngoại ô. Sáng hôm sau, mấy đứa chúng tôi rủ nhau đi vào thành phố. Tôi chỉ nhớ chúng tôi bám theo Lê Tấn Hữu – người được coi là thạo tiếng Nga nhất trong đoàn. Tôi, Hứa Chiến Thắng, Nguyễn Đại Khánh, Lê Tấn Hữu và ai đó lang thang khắp nơi trong thành phố rộng mêng mông. Chúng tôi hùng dũng bước xuống ga tầu điện ngầm, trên tay là các chiếc kem có vỏ quế rất thơm và ngọt. Đang đi theo cầu thang cuốn xuống ga tầu, tự nhiên có ai đó trong nhóm nói: “người Nga lịch sự, không ăn kem ngoài phố”. Chúng tôi giật mình và nhìn quanh.Quả thật không thấy người Nga nào ăn kem dưới tầu điện ngầm cả. Moi người đều cắm cúi đi, người ngồi trên ghế thì dán mắt vào tờ báo. Chúng tôi, không ai bảo ai, tự động cho kem vào túi quần comple của bác BỬU (Tạ Quang Bửu – Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp) phát, và yên tâm rảo bước. Đang đi, có một phụ nữa Nga đi theo sau, nói một tràng và chỉ vào các ống quần của chúng tôi. Thì ra, do lịch sự không phải lối, không dám ăn kem dưới ga tầu điện ngầm, nên cả lũ chúng tôi đã cho kem vào túi áo, túi quần, và kết quả là các chiếc kem đã chảy ra, làm thành các đường sữa trắng dọc theo ống quần. Thật là ngượng vì quãng đường về nhà còn rất xa.

Dự bị KIEV

Hôm sau, chúng tôi lại lên tàu, chạy suốt đêm và tới Kiev vào rạng sáng. Ký túc xá mà chúng tôi sẽ ở một năm dự bị nằm trên phố Ngôi sao đỏ. Một tòa nhà 5 tầng, có lẽ xây đã lâu vì các tờ giấy dán tường cũ và là nơi ẩn náu của các chú rệp to và láu lỉnh. Tôi, Hứa Chiến Thắng và Nguyễn Đại Khánh được phân công vào ở cùng một phòng, với anh bạn Misha – sinh viên người Ucraina, đang học năm cuối. Chúng tôi nhanh chóng làm quen nhau và chuẩn bị cuộc sống của mình. Đáng nhớ nhất là rệp ở Liên Xô rất to và khôn lỏi. Chúng tôi phải kéo giường ra xa tường, nơi trú quân của lũ rệp hung hăng. Tuy nhiên, sáng nào khi ngủ dậy vẫn phát hiện ra bị rệp đốt. Sau một thời gian theo dõi, chúng tôi phát hiện ra lũ rệp đã leo lên các chụp đèn ở giữa phòng và nhảy dù xuống giường chúng tôi.

Chúng tôi được phân thành các lớp nhỏ, khoảng 6-7 người, theo các hệ tổng hợp, kỹ thuật, ngoại ngữ, …Lớp tôi được ký hiệu KT4, chắc do thuộc hệ kỹ thuật. Tôi nhớ lớp có tôi, Hứa Chiến Thắng, Nguyễn Đại Khánh, Trần Anh Dũng, Nguyễn Thị Thành, Phan Thị Hồng Liên, Trương Hùng và Việt-một bạn từ đoàn lưu học sinh miền Bắc. Đầu tháng Chín, trời bắt đầu se se lạnh, lò sưởi của ký túc xá bắt đầu hoạt động. Lần đầu tiên được ngủ trong phòng có lò sưởi thật thú vị. Một sáng tôi ngủ dậy, thấy một bên chân có vết bỏng to, mọng nước. Thì ra, khi ngủ tôi đã gác chân lên lò sưởi, suýt nữa thì cháy cả chân.

Nghỉ ngơi và chơi được khoảng một tuần thì chúng tôi được thông báo sẽ đi dự lễ khai giảng. Lễ thật đơn giản, chỉ có Thầy trưởng Khoa Dự bị và các thầy giáo cô giáo trong khoa đón và chào mừng lưu học sinh Việt nam. Thầy trưởng khoa phát biểu gì đó rất nhiệt tình mà chúng tôi đâu có hiểu. Tôi chỉ nhận thức được là khai giảng ở Liên Xô rất khác ở Việt nam, ngắn gọn, không màu mè, không văn nghệ như những buổi khai giảng mà tôi đã tham dự thời phổ thông.

Mấy đứa chúng tôi được cô giáo dẫn vào lớp. Một phụ nữ Nga phúc hậu, có đôi mắt xanh thẳm và mái tóc vàng bồng bềnh. Tôi vẫn nhớ bài học đầu tiên khi cô giáo đưa ra một bức tranh vẽ hồ nước, cầu, người câu cá và nói một tràng dài. Chúng tôi vội ghi vào vở theo sự hiểu biết của mình. Đứa thì ghi là cái hồ. Đứa lại ghi là người câu cá. Thật vui. Cả cô và trò đều cười vui vẻ. Tôi được học tiếng Nga từ năm lớp Năm, ở trường Nội trú số 1 Hà Nội. Vậy mà khi vào lớp không thể nghe được một từ nào. Thật chán. Hơn nữa, hồi đó đâu có từ điển Nga Việt. Cứ nghe, nhớ và đọc theo. Dần dần chúng tôi cũng cảm nhận được tiếng Nga và sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Đến bây giờ, tôi vẫn coi tiếng Nga là thứ tiếng thân thương nhất, tất nhiên sau tiếng mẹ đẻ.

Ngoài giờ học, chúng tôi rủ nhau đá bóng tại sân gần trường. Tôi nhớ Hứa Chiến Thắng bị gãy tay trong một trận đá bóng của nhóm tôi với mấy thanh niên Liên Xô. Thắng phải bó bột mất hơn một tháng.

Sống xa gia đình, cùng lứa tuổi, cùng sở thích nên chúng tôi chóng thân nhau. Tôi, Thắng và Khánh đi đâu cũng có nhau. Thậm chí áo quần cũng mua giống nhau. Tình bạn đó còn kéo dài rất nhiều năm khi chúng tôi đã trưởng thành. Tôi vẫn nhớ nhóm chúng tôi còn chơi thân với NTA. một bạn nữ quê Nha Trang, người dong dỏng cao, mắt buồn. Thỉnh thoảng NTA. lên phòng chúng tôi chơi, nấu mỳ kilki ngoài bếp và cùng sì sụp húp mỳ, thật vui. Sau này hết thời gian dự bị đại học, NTA. về học ngành nông nghiệp và ở khác thành phố. Chúng tôi không còn gặp nhau từ hè năm 1972. Sau này nghe nói bạn ốm và đã mất tại thành phố Hồ Chí Minh.

Thỉnh thoảng vào chủ nhật, nhóm chúng tôi lại sang trường Bách Khoa Kiev chơi với các anh chị năm trên. Chúng tôi theo các anh các chị sinh viên Bách Khoa đi tắm sông Dnhepr và mò trai về nấu cháo. Lần nào chúng tôi cũng kiếm được rất nhiều trai to. Mà hình như loài vật nào ở Liên xô cũng to hơn ở Việt Nam, chỉ trừ loài gián. Đúng là

Của tây cũng như của ta
Chỉ tội kích thước hơn ba bốn lần.

Là lưu học sinh tại đất nước của Lê Nin vĩ đại, lại được nhà nước nuôi ăn và học trong khi rất nhiều bạn bè cùng trang lứa chúng tôi đang phải đổ máu nơi chiến trường chống Mỹ, chúng tôi được các chú các bác ở Đại sứ quán dặn dò rất kỹ về kỷ luật, về tình hữu nghị Xô-Việt, về …. quá nhiều thứ mà lúc đó vào đầu chúng tôi rất ít. Tôi chỉ nhớ mang máng là trong các điều cấm do đơn vị thường xuyên nhắc nhở có cấm đi xem phim tư bản, cấm mặc quần loe, cấm để tóc dài, . .. Ấy vậy mà mấy đứa chúng tôi vẫn thường xuyên trốn đi xem phim tư bản, và tự an ủi là muốn thắng chủ nghĩa tư bản phải hiểu văn hóa tư bản. Tôi vẫn nhớ hôm đó TLH, PTTH rủ mấy đứa phòng tôi đi xem phim Romeo và Juliet của Italy. Cả nhóm lặng lẽ rời khỏi ký túc xá, bắt xe buýt tới rạp phim, mua vé, ngó trước ngó sau rồi vào xem. Hết phim, cả nhóm đang bàn tán xôn xao về nội dung phim thì bổng lặng im vì phát hiện ở phía trước có mấy lưu học sinh ở cùng đơn vị. Các bạn đó cũng đang cố gắng bước nhanh và im lặng để tránh phải chào chúng tôi.

Tháng chín rồi tháng mười lặng lẽ trôi qua, chúng tôi chờ đợi tới ngày 20 tháng 11 để cả lớp có dịp tặng hoa cho các thầy cô giáo. Cả lớp phân công mua hoa, giúp lớp trưởng ôn luyện mấy câu tiếng Nga trôi chảy để đầu buổi học có thể chúc mừng cô giáo. Cô giáo lớp tôi rất ngạc nhiên, nhưng cũng rất chăm chú nghe lớp trưởng phát biểu, và phá ra cười vì hiểu được lý do của các bó hoa to và đẹp mà chúng tôi tặng. Té ra ở Liên Xô lúc đó ngày nhà giáo không phải là ngày 20 tháng 11 như ở Việt Nam. Thỉnh thoảng cô giáo lại đưa chúng tôi về nhà, bên kia sông Dnhepr. Cô sống trong một căn hộ ở chung cư cao tầng, ba phòng nhỏ nhưng rất sạch và gọn gàng. Cô rất tình cảm, coi chúng tôi như con. Cô giáo dạy chúng tôi không chỉ tiếng Nga, mà còn dạy cả văn hóa Nga, tâm hồn Nga và lối sống Nga. Chính vì vậy mà sau này, dù đi nhiều nơi, học nhiều chỗ nhưng tôi vẫn thấy mình học được văn hóa Nga và hiểu được tâm hồn Nga nhiều nhất trong thời gian dự bị ở Kiev. Chỉ tiếc là sau này khi có dịp trở lại Kiev, ghé trường Đại học Tổng hợp Kiev (KGU), nhưng tôi đã không thể tìm lại được cô giáo của mình thời Dự bị.

Một năm trôi qua thật nhanh, cũng có rất nhiều kỷ niệm về thầy cô giáo người Nga, về bạn bè, về thành phố Kiev. Không bao giờ tôi có thể quên được những trận đá bóng nảy lửa trên tuyết ở sân gần nhà, cuộc đi chơi trên sông Dnhepr để tránh chuyến thăm Kiev của Tổng thống Mỹ vào tháng 5 năm 1972, đợt lao động tại nhà máy dệt để ủng hộ đồng bào miền Nam, … và cả những tô mỳ kilki nóng những ngày cuối tháng khi mà học bổng đã cạn.

Cuối tháng 8 năm 1972, chúng tôi tạm biệt nhau để đi về học ở nhiều thành phố khác nhau của Liên Xô. Thỉnh thoảng, nhân các chuyến đi thăm quan, tôi gặp lại nhiều bạn bè của mình thời dự bị Kiev. Chúng tôi còn chung chuyến tàu chuyên cơ từ Matxcova về Hà Nội ngày 27/7/1977 sau khi tốt nghiệp. Lại vui đùa, chuyện tiếu lâm, nhưng tâm trạng đứa nào cũng mong muốn về tới nhà để gặp lại người thân, gặp lại gia đình sau 6 năm dài ở Liên xô.

Tạm kết

Năm 2009, tôi nhận được cuộc gọi của Lê Tấn Hữu, từ thành phố Hồ Chí Minh, thông báo về trang Website của Hội Dự bị Kiev 1971-1972. Cũng từ đó, hầu như ngày nào tôi cũng lên mạng để theo dõi thông tin của các bạn thời dự bị, để nhớ về nước Nga, nhớ về những kỷ niệm không thể nào quên của tuổi mười bảy.

Ôi nước Nga thân thiết của tôi ơi
Nhà gỗ thông khoác áo choàng tượng chúa
Một màu xanh mát ngắm nhìn thuê thỏa
Một màu xanh tít tắp tận chân trời
(Exenhi)

Trần Lộc Hùng
27.7.2011,
Thành phố Hồ Chí Minh 2011

 
Leave a comment

Posted by on August 9, 2011 in Nước Nga, Tản mạn

 

Các công trình nghiên cứu khoa học

Also be found in personal page

1 – (Chủ trì) Đề tài nghiên cứu cơ bản trong KHTN ”Tổng ngẫu nhiên: dáng điệu tiệm cận, các phép tiếp cận hiện đại và các ứng dụng”do Quỹ phát triển Khoa học Công nghệ quốc gia NAFOSTED tài trợ.

2 – (Tham gia) Dự án Nghiên cứu Project on Applied Mathematics với tư cách là giáo sư quốc tế mời, kéo dài 3 năm 2008-2010 với Khoa Toán Trường Đại học Khom Kaen, Thái lan (đang thực hiện). Mỗi năm tôi được dự án mời sang 2 lần với tư cách giáo sư mời để giảng dạy các chuyên đề Tiến sỹ và Thạc sỹ chuyên ngành Toán ứng dụng, đồng thời trình bày các kết quả nghiên cứu qua các seminar khoa học. Hiện nay tôi đang là đồng hướng dẫn luận án Tiến sỹ chuyên ngành XSTK cho 01 NCS người Thái lan, giảng viên khoa Toán, Trường Đại học Khon Kaen, Thái Lan. (Đã kết thúc)

3 – (Chủ trì) Đề tài Các định lý giới hạn của tổng ngẫu nhiên các biến ngẫu nhiên độc lập và ứng dụng, do Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu Châu á, Đại học Quốc gia Hà Nội tài trợ, 2007-2009, (đã nghiệm thu, đánh giá loại tốt).

4 – (Chủ trì) Đề tài KHCN cấp Bộ Đánh giá tốc độ hội tụ trong các định lý giới hạn của lý thuyết xác suất bằng phương pháp khoảng cách xác suất, 2007-2008, (đã nghiệm thu, đánh giá loại tốt).

5 – (Chủ trì) Đề tài Một số phép tiếp cận tới Lý thuyết các Định lý Giới hạn và ứng dụng trong Tin học và Thống kê, thuộc Chương trình NCCB trong KHTN, Mã số 101806, 2006-2008, (đã nghiệm thu)

6 – (Chủ trì) Đề tài KHCN cấp Bộ Về phép tiếp cận L1-chuẩn và ứng dụng trong Thống kê , 2002-2003, (đã nghiệm thu loại Khá).

7 – (Tham gia) Dự án Áp dụng những phương pháp thống kê mạnh trong một số vấn đề kinh tế và công nghiệp ở Việt Nam, thuộc Chương trình Hợp tác Nghiên cứu của các Trường Đại học Moncton (Canada),Đại học Toulouse (Cộng hòa Pháp) và Đại học Huế (Việt Nam), 1999-2001, do Tổ chức các trường Đại học của Hiêp hội cộng đồng Pháp ngữ (FICU) tài trợ, (đã nghiệm thu). Năm 2001 tôi được Trường Đại học Moncton (Canada) mời sang làm việc với tư cách giáo sư mời trong thời gian 1 tháng. Tham gia dự án tôi đã có 01 kết quả công bố cùng giáo sư Phạm Gia Thụ (Đại học Moncton, Canada) trên 1 tạp chí cả Mỹ và 01 kết quả trên tạp chí Acta Mathematica Vietnamica (2003), 01 kết quả trên Proceedings of the 4th Vietnamese Mathematical Congress năm 2002.

8 – (Chủ trì) Đề tài Tính tóan ngẫu nhiên, thuộc Chương trình NCCB trong KHTN do Bộ KH & CN tài trợ trong các năm 1996-1998 (giai đoạn 1), 1998-2000 (giai đoạn 2), (đã nghiệm thu).

9 – (Chủ trì) Đề tài Khoảng cách xác suất và các ứng dụng, thuộc Chương trình NCCB trong KHTN, do Bộ KH & CN tài trợ trong các năm 1994-1996, (đã nghiệm thu).

 
Leave a comment

Posted by on May 5, 2011 in Career Education, Projects

 

Tags:

Bài báo khoa học

Also be found in personal page

1) Trần Lộc Hùng, (2011),  Phân phối khi bình phương với bậc tự do hình học, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Giải tích và Toán ứng dụng, Đại học Sài gòn, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 3 năm 2011, trang 249-257.
2) Tran Loc Hung and Tran Thien Thanh, (2010), Some results on as-ymptotic behaviors of random sums of independent identically random variables, Communication of the KoreanMathematical Society, 25, No. 1, pp. 119-128, MR2599693
3) Trush N. N., Le Hong Son, Chen Hailin, and Tran Loc Hung,Behavior of heavy tails of stable distributions and processes  GAR c stable remains, Probability Theory,Mathematical Statistics an dom Processes, Zbornik of scientific papers, BSU, 275 p, 2009.
4) Le Trung Kien, Le Trung Hieu, Tran Loc Hung, and Le Anh Vu, (2009), MPageRank: The Stability of Web Graph, Vietnam Journal of Mathematics, 37:4, pp. 475-489, MR 2574411.
5) Tran Loc Hung, (2009), Estimations of the Trotter’s distance of two weighted random sums of d-dimensional in dependent random vari- ables, International Mathematical Forum, 4, no. 22, pp. 1079  -1089, MR 2524630.
6) Tran Loc Hung, Tran Thien Thanh, and Bui Quang Vu, (2008),Some connections between Random-sum Limit Theorems and Monte Carlo Simulation, Mathematical Optimization Theory and App lica-tions, Publishing House for Science and Technology, pp. 53-63.
7) Tran Loc Hung, (2008), On the T random sums of d-dimensional rand Random Processes, Mathematical Sceedings of the International Scie tember 15-19, (2008), pp. 417-422.
8 ) Trần Lộc Hùng và Trần Thiện Thành, (2008), Tốc độ hội tụ trong các định lý giới hạn đối với tổng ngẫu nhiên qua khoảng cách Trotter, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, 14 (48), 10-2008, trang 41-48.
9) Trần Lộc Hùng và Đặng Thị Tố Như, (2008), Uớc lượng khoảng cách xác suất Trotter đối với hai tổng Abel các biến ngẫu nhiên độc lập, Thông tin khoa học, Trường Đại học Khoa học Huế, N. 15, 10, trang 1-7.
10) Tran Loc Hung, Tran Thien Thanh, and Bui Quang Vu, (2008),Some results related to distribution functions of chi-square type random variables with random degrees of freedom, Bull. Korean Math.Soc., 45, No. 3, pp. 509-522, MR 2442192.
11) Trần Lộc Hùng, Trần Thiện Thành và Bùi Quang Vũ, (2007), Phân phối dạng khi bình phương với bậc tự do ngẫu nhiên, Tạp chí ứng dụng Toán học Việt Nam, Vol 5, N. 1, trang 13-26.
12) Le Trung Kien, Le Trung Hieu, Tran Loc Hung and Nguyen Tien, (2007), Deeper inside Finite-state Markov Chains, VNU J onal of Science, Mathematics-Physics, Vol 23,N. 2, pp. 76-83.
13) Le Trung Kien, Tran Loc Hung and Le Anh Vu, (2007), Applying probabilistic Model for ranking Webs in Multi-context, VNU Journal of Science, Mathematics-Physics, vol 23, pp.35-46
14) Le Hong Son, Trush N.N. and Tran Loc Hung, (2007), Some Proper- ties of Symmetric Stable Random Variables, Vestnik BSU, Scientific Journal, Belarus State University, Serial 1, Physics, Mathematics, In- formatics, N. 3, pp. 71-74, (in Russian), MR 2442493.
15) Tran Loc Hung, (2007), On a probability metric based on Trotter operator, Vietnam Journal of Mathematics, N. 3, pp. 21-32
16) Trần Lộc Hùng, (2007), Các đánh giá khoảng cách xác suất Trotter của hai tổng ngẫu nhiên các véc tơ ngẫu nhiên độc lập, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, N. 42, trang 103-111.
17) Trần Lộc Hùng và Trần Thiện Thành, (2007), Một số kết quả liên quan tới tâm của các biến ngẫu nhiên, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, N. 42, trang 111-121.
18) Trần Lộc Hùng và Trần Thiện Thành, (2007), Một số kết quả về các định lý giới hạn ngẫu nhiên của các biến ngẫu nhiên độc lập cùng phân phối, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Học Viện Kỹ thuật quân sự, N. 120, III, trang 12-22.
19) Tran Loc Hung, (2005), On Trotter metric and its an application in weak law of large numbers, Proc. International Conference on Theory Probability, Random Processes, Mathematical Statistics and Applications, 21-23 Feb. BSU, Minsk (Belarus), 519.2 (063), N. 22, T. 33, pp. 344-349
20) Pham-Gia THU and Tran Loc Hung, (2005), Research trends in contemporary statistics and a look to the future, Proceedings of the Sixth Vietnamese Mathematical Conference, 237–251, Hanoi National. Univ. Publishing House, Hanoi, MR2175686
21) Tran Loc Hung and Nguyen Van Son, (2004), Some results on dispersive ordering of distributions and applications, Modeling, Computation and Optimization in Information Systems and Management Science, Hermes Science Publishing, pp. 392-398.
22) Tran Loc Hung and Nguyen Van Son, (2003), An Approach Methodto Weak Law of Large Numbers, Proceedings of theWinter Schoolon Probability and Statistics Training, Research and Applications, Vinh, pp. 201-208.
23) Pham-Gia THU and Tran Loc Hung, (2003), Bayesian estimationunder estimation constraint, Acta Math. Vietnamica, volume 28,number 2, pp. 201-207, MR1999456 (2004j; 62018).
24) Trần Lộc Hùng và Nguyễn Văn Sơn, (2002), Một số tính chất tiệm cận của hàm phân tán, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, N. 13.
25) Trần Lộc Hùng, (2002), Một số chú ý liên quan tới khoảng cách L1của các hàm phân tán, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, N. 10trang 17-20.
26) Tran Loc Hung and Nguyen Van SON, (2003), Some connections of weak convergence with the convergence of the dispersion functions, Vietnam Journal of Mathematics, vol 31:3, pp. 1-7,MR2010532 (2004h; 60032).
27) Trần Lộc Hùng và Phạm-Gia Thụ, (2001), Một số kết quả liên quan tới hàm phân tán của biến ngẫu nhiên, Thông tin Khoa học Đại học Sư phạm Huế, N. 4.
28) Pham-Gia Thụ và Trần Lộc Hùng, (2001), Cách tiếp cận L1-chuẩn và các ứng dụng trong xác suất và thống kê, Kỷ yếu Hội nghị Xác suất Thống kê toàn quốc lần thứ hai, Ba vì, Hà Nội, trang 165-181
29) Pham-Gia THU and Tran Loc Hung, (2001), The mean and me-dian absolute deviations, Mathematical and Computer Model-ing, USA, 34, pp. 921-936, MR1858810 (2002f; 60026).
30) Tran Loc Hung and Pham-Gia THU, (1999), On the mean absolute deviation of the random variables, VNU Journal of science, Nature Science, XV, N 5, pp. 36-44.
31) Trần Lộc Hùng và Nguyễn Ngọc Hoan, (1999) Phương pháp mô phỏng mô hình hàng đợi, Thông tin Khoa học Trường Đại học Sư phạm Huế, N. 1, Vol. 32, trang 47-50.
32) Trần Lộc Hùng và Phạm Lệ Mỹ, (1999), GIS và ứng dụng trong số hóa bản đồ thành phố Huế, Thông tin Khoa học Trường Đại học Sư phạm Huế, N 11, trang 11-15.
33) Trần Lộc Hùng, (1999), Độ đo phân tán của biến ngẫu nhiên, Thông tin Khoa học Trường Đại học Sư phạm Huế, N. 11, vol. 1, trang 7-11.
34) Trần Lộc Hùng, (1999), Các kết quả liên quan tới độ lệch tuyệt đối trung bình, Thông tin khoa học Trường Đại học Khoa học Huế,N. 1, tập 32, trang 40-44.
35) Trần Lộc Hùng, (1996), Về một đặc trưng của số cực đại trong mẫu ngẫu nhiên, Thông tin khoa học Trường Đại học Khoa học Huế, N. 10, Tập 1, trang 15-19.
36) Trần Lộc Hùng, (1996), Khoảng cách xác suất và ứng dụng, Thông tin khoa học Trường Đại học Khoa học Huế, N. 10, Tập 1, trang 10-15.
37) Trần Lộc Hùng và Nguyễn Thế Dũng, (1994), Số cực đại trong mẫu ngâu nhiên có cỡ ngẫu nhiên hình học, Thông tin khoa học Trường Đại học Khoa học Huế, N 9, trang 7-12.
38) Trush N. N. and Tran Loc Hung, (1993), On the asymptotic behavior of statistics depending on a random number, Mathematical Mod- eling and Statistical Analysis of Time Series, Belarus State University, pp. 101-110.
39) Trần Lộc Hùng, (1991), Tốc độ hội tụ trong định lý giới hạn với tổng ngẫu nhiên trong không gian Hilbert, Thông tin khoa học Trường Đại học Khoa học Huế, N. 7, trang 13-16.
40) Trần Lộc Hùng, (1988), Phương pháp Trotter trong luật các số lớn với tổng ngẫu nhiên, Tạp chí Toán học Việt Nam , N. 2, trang 4-9
41) Trần Lộc Hùng, (1983), Ứng dụng của phương pháp toán tử trong luật số lớn, Tạp chí Toán học Việt Nam, N 2, trang 20-24.
42) Trần Lộc Hùng, (1982), Phương pháp toán tử trong các định lý giới hạn, Thông tin khoa học Trường Đại học Tổng hợp Huế, N 1, 1982, trang 20-27.
 
Leave a comment

Posted by on May 5, 2011 in Career Education, Publications

 

Tags:

Giáo trình

Also be found in personal page

1. Trần Lộc Hùng, (2005), Hướng dẫn giải bài tập xác suất thống kê, Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng.

2. Trần Lộc Hùng, (2005), Giáo trình xác suất thống kê, Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng.

3. Trần Lộc Hùng, (2001), Giáo trình xác suất thống kê, Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng.

4. Trần Lộc Hùng, (2001), Bài tập xác suất và thống kê, Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng.

5. Trần Lộc Hùng, (1999), Bài tập Lý thuyết xác suất và Thống kê toán học, Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng

6.Trần Lộc Hùng, Phan Văn Danh và Trần Thị Diệu Trang, (1998), Lý thuyết xác suất và Thống kê toán học – Chương trình B, Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng.

7. Trần Lộc Hùng, (1998), Lý thuyết xác suất và Thống kê toán học- Chương trình A, (Tái bản lần I), Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng.

8. Trần Lộc Hùng, (1997), Lý thuyết xác suất và Thống kê toán học- Chương trình A, Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng.

9. Trần Lộc Hùng, (1997), Cơ sở Mô phỏng ngẫu nhiên, Nhà xuất bản Giáo dục chi nhánh Đà Nẵng.

 
Leave a comment

Posted by on May 5, 2011 in Books, Career Education

 

Hướng dẫn nghiên cứu sinh và học viên cao học

Also be found in personal page

Nghiên cứu sinh (Tên NCS, tên đề tài hướng dẫn):

1. Đồng hướng dẫn luận án Tiến sỹ toán học chuyên ngành xác suất thống kê của NCS Lê Hồng Sơn tại Trường Đại học Quốc gia Belarus (Minsk), đã bảo vệ năm 2009 (Quyết định số 320/QD-DHH-DTTS ngày 31 tháng 10 năm 2005 của Giám đốc Đại học Huế). Tôi đã dạy 02 chuyên đề tiến sỹ (Lý thuyết các định lý giới hạn và Quá trình ngẫu nhiên), hướng dẫn viết đề cương luận án Tiến sỹ cho NCS Lê HồngSơn “Một số vấn đề về luật số lớn trong lý thuyết xác suất thống kê”(Lê Hồng Sơn là NCS của Đại học Huế tham gia dự án 322, làm tiến sỹ tại Trường Đại học Tổng hợp Belarus, bảo vệ năm 2009). (2005-2009)*

2. Đồng hướng dẫn luận án Tiến sỹ toán học của NCS Lâm Hoàng Chương tại Trường Đại học Orleans (Pháp) theo chương trình PUF từ 2009 (Các trường đại học nói tiếng Pháp).

3. Đồng hướng dẫn luận án Tiến sỹ toán học cho NCS người Thái lan tại Khoa Toán trường Đại học KhonKaen, Thái lan (trong dự án với trường Đại hoc Khon Kaen), từ 2009.

4. Tham gia (ủy viên) Hội đồng chấm luận án Tiến sỹ cấp Quốc gia cho NCS Lê Văn Thành, Đại học Vinh, tháng 11 năm 2009.

5. Tham gia (ủy viên) Hội đồng chấm luận án Tiến sỹ cấp cơ sở cho NCS Nguyễn Văn Toản, Viện Toán học, tháng 11 năm 2001.

6. Tham gia (ủy viên) Hội đồng chấm luận án Tiến sỹ cấp cơ sở cho NCS Trần Kim Thanh, Trường Đại học KHTN-ĐH QG Hà Nội, tháng 12 năm 2003.

Học viên cao học (tên học viên, đề tài hướng dẫn):

1. Nguyễn Thế Dũng, Khoa Toán trường Đại học Sư phạm Huế, Luận văn Thạc sỹ, bảo vệ năm 1995.

2. Hoàng Thị Kim Quyên, Khoa Toán trường Đại học Sư phạm Huế,Luận văn Thạc sỹ, bảo vệ năm 1995.

3. Bùi Quang Vũ, Khoa Toán trường Đại học Khoa học Huế, Luận văn Thạc sỹ, bảo vệ năm 2007.

4. Nguyễn Văn Cường, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ, bảo vệ năm 2008.

5. Trần Thiện Thành, Khoa Toán trường Đại học Khoa học Huế, Luận văn Thạc sỹ, bảo vệ năm 2008.

6. Nguyễn Thị Tố Như, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ, bảo vệ năm 2008.

* Khoảng thời gian hoàn thành

 
Leave a comment

Posted by on May 5, 2011 in Career Education

 

Kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu khoa học

Also be found in personal page

1. Giải tích
2. Đại số tuyến tính
3. Lý thuyết xác suất
4. Thống kê ứng dụng
5. Lý thuyết các định lý giới hạn của Lý thuyết xác suất
6. Mô phỏng ngẫu nhiên và mô hình hóa
7. Giải tích hàm
8. Đã tham gia giảng dạy các cấp đại học, Cao học, Tiến sỹ, Hệ cử nhân chất lượng cao bằng tiếng Nga và các chương trình liên kết với nước ngoài bằng tiếng Anh.
9. Đã tham gia giảng dạy tại các các Trường Đại học ở Canada (Đại học Moncton, Canada) và Thái Lan (Đại học Khon Kaen, Viện Công nghệ Châu Á AIT)

 
Leave a comment

Posted by on May 5, 2011 in Career Education